Phân tích bài thơ Chiều tối: Dù hoàn cảnh khắc nghiệt đến đâu vẫn luôn hướng về sự sống và ánh sáng

II. Đọc – hiểu văn bản

1. Hai câu thơ đầu: bức tranh thiên nhiên

– Mở đầu bài thơ, tác giả đã vẽ lên một bức tranh thiên nhiên vùng sơn cước trong buổi chiều tà với hai nét vẽ chính là: “cánh chim” và “chòm mây”

– Sự khác biệt giữa bản dịch thơ với phần nguyên tác:

+ Bản dịch thơ đã bỏ mất đi chữ “cô”: cô đơn, lẻ loi

+ Bản dịch, dịch chữ “mạn mạn” (lững lờ) thành “trôi nhẹ”

=> Bản dịch chưa thật chính xác.

 

– Hai hình ảnh “cánh chim” và “chòm mây” vừa là ảnh thực đồng thời cũng là những hình ảnh quen thuộc trong thơ ca xưa.

 

– Nghệ thuật: Sử dụng hình ảnh ước lệ, tượng trưng, bút pháp chấm phá.

ð  Tính cổ điển

– Nhân hóa, ẩn dụ : cánh chim mỏi mệt; chòm mây cô đơn, lững lờ trôi.

– Tương phản: tìm về (của cánh chim ) >

– Tâm trạng của Bác: buồn, cô đơn trong cảnh chiều hôm.

– Vẻ đẹp tâm hồn của Bác:

+ Lòng yêu thiên nhiên, hòa mình vào thiên nhiên.

+ Từ cái nhìn trìu mến với thiên nhiên, cho ta thấy khát vọng tự do và ước mong sum họp của Bác.

+ Tinh thần lạc quan, phong thái ung dung, tự tại thưởng ngoạn cảnh chiều của Bác.

=> Tiểu kết: Bằng bút pháp chấm phá, nhà thơ đã ghi lại linh hồn của tạo vật và mở ra một không gian tâm trạng. Qua đó, chúng ta cũng thấy được phần nào vẻ đẹp tâm hồn của Người.

b. Hai câu cuối: Bức tranh sinh hoạt của con người.

– Qua đối chiếu cho thấy sự khác biệt:

+ “Thiếu nữ” dịch là “cô em”.

+ Phần dịch thơ có thêm chữ “tối”

=> Sự khác biệt đó phần nào làm giảm đi ý nghĩa của nguyên tác.

– Trung tâm của bức tranh chiều tối là hình ảnh cô gái đang xay ngô.

–          – Nghệ thuật:

–          + Sử dụng thi pháp cổ điển lấy ánh sáng để tả bóng tối

–          + Điệp từ: “ma bao túc” – “bao túc ma hoàn”

–          + Đặc biệt là nghệt thuật sử dụng từ ngữ rất đắt của tác giả: chữ “hồng” được xem là nhãn tự của cả bài thơ.

–          – Tâm trạng: Hình tượng thơ có sự vận động từ tối đến sáng, từ buồn đến vui. Qua đó thể hiện tâm trạng vui vẻ của Bác trước cuộc sống lao động thường nhật của con người.

– Vẻ đẹp tâm hồn:

+ Người tù đã vượt lên trên hoàn cảnh của mình để chia sẻ niềm vui lao động với cô gái vùng sơn cước, cảm thông trước sự vất vả của người lao động.

+ Thể hiện niềm lạc quan, yêu đời của một tâm hồn luôn hướng về sự sống, ánh sáng, tương lai. Đó cũng chính là tinh thần thép của người chiến sĩ cộng sản Hồ Chí Minh.

=> Tiểu kết: Bằng nghệ thuật điểm nhãn, lấy ánh sáng tả bóng tối, Hồ Chí Minh đã vẽ nên một bức tranh sinh động về cuộc sống sinh hoạt của con người. Qua đó, người đọc cũng cảm nhận được tấm lòng nhân đọa bao la của Bác “nâng niu tất cả chỉ quên mình” (Tố Hữu).