Cảm nhận An Dương Vương, Mị Châu, Trọng Thủy

Cảm nhận An Dương Vương, Mị Châu, Trọng Thủy

Đề bài: Cảm nhận An Dương Vương, Mị Châu, Trọng Thủy

Bài làm

Tôi kể ngày xưa chuyện Mị Châu

Trái tim lầm chỗ để trên đầu

Nỏ thần vô ý trao tay giặc

Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu

( Tố Hữu)

Lời thơ gợi cho bạn đọc sự đau xót, tiếc thương về câu chuyện truyền thuyết “ An Dương Vương và Mị Châu- Trọng Thủy” với hình ảnh của một vị vua tài giỏi sáng suốt vì dân nhưng cuối cùng lại thất bại trong một phút chủ quan để rồi đánh mất giang sơn xã tắc và mối tình éo le giữa Mị Châu- Trọng Thủy.

Truyền thuyết “An Dương Vương và Mị Châu- Trọng Thủy” trích từ “Truyện Rùa Vàng” trong “ Lĩnh Nam chích quái” dựa trên khung cảnh lịch sử dựng nước và giữ nước của ông cha ta thời An Dương Vương nhưng được khúc xạ qua lời kể của nhiều thế hệ để rồi kết tinh thành hình tượng nghệ thuật đặc sắc, nhuốm màu thần kì mà vẫn thấm đẫm cảm xúc đời thường. Chuyện kể về công lao vĩ đại của vua An Dương Vương xây thành và chế tạo nỏ thành công để giữ nước nhờ sự giúp đỡ của Rùa Vàng, đồng thời cũng là câu chuyện về nguyên nhân cơ đồ nước nhà Âu Lạc “đắm biển sâu” liên quan đến mối tình Mị Châu- Trọng Thủy.

Đoạn đầu, “An Dương Vương và Mị Châu- Trọng Thủy” để trong lòng người đọc ấn tượng về niềm tự hào, phấn khởi trong thưở bình minh dựng nước. Trong truyền thuyết, An Dương Vương hiện lên như một vị vua toàn tài, luôn mang trong mình tinh thần chống giặc mạnh mẽ. Ông nhận ra nội lực chưa đủ mạnh thì rừng núi hiểm trở chính là chỗ dựa an toàn, nhưng muốn phát triển thì phải rời đô là tất yếu. Nhưng dời đô xuống đồng bằng cũng đồng thời là phơi lưng ra đồng bằng thách thức đối phương nên ông quyết định xây thành. Quyết định rời đô đến Cổ Loa và cho xây thành chứng tỏ ông là người sáng suốt và có bản lĩnh vững vàng. Công việc xây thành vậy mà vô cùng khó khăn “ hễ cứ đắp tới đâu là lở tới đấy”, “tốn nhiều công sức mà không thành”. Vua không nản lòng mà lập đàn trai giới cầu đảo bách thần và thần Kim Quy đã hiện lên giúp đỡ. Sự giúp đỡ của Rùa thần chứng tỏ việc xây thành Cổ Loa của An Dương Vương là hợp ý trời, hợp lòng dân nên được dân chúng ủng hộ.

Niềm tự hào, kính trọng của bạn đọc còn là khi nhận thấy một vị vua có tầm nhìn xa trông rộng. An Dương Vương đã tâm sự với thần Kim quy “Nhờ ơn thần, thành đã xây được. Nay nếu có giặc ngoài lấy gì mà chống? ”. An Dương Vương đã ý thức đề cao cảnh giác, chuẩn bị vũ khí để chống giặc. Việc chế nỏ đây chính là sự kết hợp trí tuệ, sức mạnh của quân và dân. Sức mạnh của thứ vũ khí đó đã được thần thánh hóa, kỳ diệu hóa bằng hình tượng nỏ thần. Nỏ thần một phát giết hàng vạn tên giặc vừa là sản phẩm của trí tưởng tượng bay bổng, vừa phản ánh sự phát triển trong kĩ thuật chế tạo vũ khí của dân tộc ta. Nỏ thần là máu thịt của thần hay là của nhân dân. Nỏ thần vì thế còn là tượng trưng cho tinh thần đoàn kết, sức mạnh dân tộc, ý chí chiến thắng kẻ thù ngoại xâm. Nhờ có nội lực mạnh mẽ này mà An Dương Vương khiến quân Triệu Đà thua to khi mang quân xâm lược nước ta. Đây là bài học tích cực trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước

Như vậy, ở phần đầu tác phẩm, truyền thuyết “An Dương Vương và Mị Châu- Trọng Thủy” đã khẳng định vua An Dương Vương với vai trò người đứng đầu xứng đáng được mến phục và truyền cho người đọc niềm trân trọng, biết ơn công lao to vĩ đại của vị vua này.

Trân trọng, ngợi ca công ơn của An Dương Vương với đất nước nhưng lịch sử và nhân dân vẫn thừa nhận sai lầm của vua An Dương Vương. Bi kịch mất nước là trọng tâm phần hai của “An Dương Vương và Mị Châu- Trọng Thủy” đã khiến người đọc đặt tay lên trán suy nghĩ. Sau tất cả, An Dương Vương đã đánh mất tinh thần cảnh giác vốn có, con người thật của mình mà ngủ quên trên chiến thắng. Trách nhiệm của An Dương Vương là khi chấp nhận lời cầu hôn của Triệu Đà, gả con gái mình cho con trai kẻ thù để đất nước rơi vào cảnh gông cùm nghìn năm Bắc thuộc. Nhà vua đã chủ quan, mơ hồ về bản chất của kẻ thù. Nhưng kết hôn chính trị trên thế giới không ít. Vậy quyết định của An Dương Vương sai ở đâu? Có lẽ là khi An Dương Vương không hề đề phòng, để cho Trọng Thủy ngang nhiên tìm hiểu, dò la khắp nơi rồi phát hiện ra bí mật quốc gia. Hoặc có lẽ là khi để con biết bí mật quốc gia, để tình cảm công tư không rõ ràng và dẫn đến mất nước. Như vậy An Dương Vương thất bại không phải là khi giặc mang quân sang đánh mới bộc lộ mà đã thể hiện từ khi đánh mất cảnh giác. Sau khi biết mất nỏ, thất bại của An Dương Vương còn là sự ỷ lại vào nỏ thần mà quên mất sức mạnh dân tộc. An Dương Vương quên rằng năm xưa mình chiến thắng quân Đà khi không có nỏ thần là bởi lãnh đạo nhân dân. Trong cơn quẫn cùng, An Dương Vương mang con gái lên ngựa bỏ chạy.

Sai lầm của người đứng đầu là không thể sửa chữa. An Dương Vương thảm bại, nước mất, dân lầm than. Ông chỉ muốn còn lại chút hơi ấm gia đình. Rùa vàng thét lớn “Kẻ nào ngồi sau ngựa chính là giặc đó”. Lời phán xét đanh thép của công lí về hành động vô tình phản quốc của Mị Châu khiến An Dương Vương tỉnh ngộ. Nhà vua chém chết cô con gái như một cách tự xử quyết liệt đối với chính bản thân. Quá muộn màng nhưng cuối cùng An Dương Vương đã trở về với ban đầu, đặt quyền lợi của dân tộc lên trên lợi ích bản thân mình. Cái giá phải trả cho sai lầm của người đứng đầu, cầm vận mệnh đất nước, quốc gia thật quá đắt! An Dương Vương như vậy đã trở thành bài học xương máu về thái độ trước kẻ thù.

Truyền thuyết “An Dương Vương và Mị Châu- Trọng Thủy” còn là câu chuyện bị kịch của mối tình éo le Mị Châu- Trọng Thủy. Mị Châu là người nặng tình và quá trong sáng. Nàng đắm chìm trong tình yêu mà không ý thức được người kia vốn là con trai kẻ thù. Xét dưới góc độ thần tử, việc cho xem nỏ thần của nàng đã mang tội chết. Nhưng đáng trách hơn là khi không nhận ra ẩn ý rõ ràng trong lời nói ly biệt của Trọng thủy mà chỉ đợi ngày đoàn viên, giặc đuổi giết nhưng vẫn rải lông ngỗng. Đặt tình yêu lên trên vận mệnh quốc gia, Mị Châu vô cùng đáng phê phán. Nhưng dưới góc độ tâm lý của người con gái đang yêu thì có thể thấy nàng đã làm tròn trách nhiệm với con tim mình. Và khi rải lông ngỗng làm dấu cho Trọng Thủy, ta có thể hiểu đó là tâm trạng khi nàng muốn gặp Trọng Thủy để hỏi tại sao Trọng Thủy lại làm như vậy. Nàng chẳng làm tròn chữ hiếu cũng như đã đẩy dân tộc vào cảnh tang thương, nàng chỉ để lời cho đời chữ tình mà thôi. Cuối cùng, trước khi chết, Mị Châu tỉnh ngộ. Nàng không xin sống mà chỉ mong mình oan. Cái nhìn nhân hậu của nhân dân ta dành cho nàng là khi thấy điều đó đã để nàng hóa ngọc thạch, máu hóa ngọc trai ở biển đông. Vì thế Mị Châu hiện lên trong hình dung của bạn đọc bây giờ vừa đáng thương vừa đáng trách. Truyền thuyết không chỉ là lịch sử lạnh lùng với sự thật phũ phàng mà con là lòng bao dung, thương cảm cho tình yêu lứa đôi đối mặt với những âm mưu.

Truyền thuyết “An Dương Vương và Mị Châu- Trọng Thủy” muôn đời để lại trong lòng bạn đọc nhiều suy nghĩ, cảm xúc khác biệt và những ý kiến trái chiều. Câu chuyện còn gửi gắm một giá trị nhân văn muôn đời không bao giờ thay đổi về cách giải quyết cái chung và cái riêng, việc nước và việc nhà, đặc biệt là khi bản thân là người đứng đầu, trên vai gánh vác quyền lợi của người khác.

Tác phẩm là sự đan xen giữa bi kịch tình yêu và bi kịch mất nước của cha con An Dương Vương và Mị Châu. Thông qua đó biểu lộ tư tưởng phản kháng chiến tranh xâm lược, rút ra bài học giữ nước, không nên tự mãn, ỷ lại vào vũ khí, phải cảnh giác trước mọi âm mưu thâm độc. Ngày nay xã hội phát triển nhưng theo một khía cạnh nào đó, bài học trên vẫn tồn tại và có giá trị sâu sắc.

Nguồn: Bài văn hay