Phân tích câu ca dao Thân em như tấm lụa đào, Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai

Phân tích câu ca dao Thân em như tấm lụa đào, Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai

Đề bài: Anh chị hãy phân tích câu ca dao sau và làm rõ nét đặc sắc của chúng:

“Thân em như tấm lụa đào,

Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.

Thân em như hạt mưa sa,

Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày.

Thân em như giếng giữa đàng,

Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân.

Thân em như con hạc đầu đình,

Muốn bay không cất nổi mình mà bay.”

Bài làm

Ca dao – dân ca từ bấy lâu đã đi sâu vào văn hóa của người Việt, nó như một món ăn tinh thần không thể thiếu cảu người dân, đặc biệt là người dân lao động. Ca dao – dân ca được truyền từ đời này qua đời khác và nó được lưu giữ như một báu vật tinh thần không thể thiếu. Chính vì vậy mà những người dân lao động đã gửi gắm tiếng nói, tình cảm của mình vào ca dao với đầu đủ cung bậc cảm xúc, buồn, vui, tha thiết, nhớ nhung, giận hờn. Mỗi câu ca dao có thể giống nhau về nội dung hình thức, nhưng lại mang một vẻ đẹp riêng, với cảm xúc riêng. Nổi bật là những bài ca dao về thân phận của người phụ nữ. Chẳng vì thế mà một loạt câu ca dao về thân em được ra đời, để thể hiện số phận của những người phụ nữ khác nhau. Không ngẫu nhiên đâu, khi những ví von về người phụ nữ lại bắt đầu với từ “thân em”. Ta sẽ lần lượt phân tích từng câu ca dao để thấy cái hay, cái đẹp ẩn ý trong mỗi câu chữ.

“Thân em như tấm lụa đào,

Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.

Thân em như hạt mưa sa,

Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày.

Thân em như giếng giữa đàng,

Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân.

Thân em như con hạc đầu đình,

Muốn bay không cất nổi mình mà bay.”

Người phụ nữ xưa gắn với hình ảnh “tấm lụa đào” gợi cảm, vừa mềm mại dịu dàng như bản tính cố hữu của người phụ nữ, vừa tươi tắn sắc đào tươi như sức sống mãnh liệt của tâm hồn.

“Thân em như tấm lụa đào,

Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”.

Hình ảnh ví von thật đẹp thật tròn trịa, vừa nhẹ nhàng vừa sâu lắng mà lại lột tả được vẻ đẹp của người phụ nữ. Đã là vải lụa thì ai trả thích, lại còn là tấm lụa đào. Đẹp về chất liệu và tươi sáng về màu sắc, nó gợi lên hình ảnh của người phụ nữ vừa đẹp vừa quyến rũ, lại rất quý giá.Thế nhưng tấm lụa cao quí ấy đã trở thành món hàng trao đổi – phất phơ giữa chợ. Không biết tấm lụa tuyệt đẹp này sẽ vào tay ai, một người giàu sang phú quý hiểu được giá trị của nó, hay một kẻ bần hàn coi nó cũng bình thường như những tấm vải khác. Thật khó để có thể trả lời? Câu hỏi tu từ “biết vào tay ai” như một lần nữa khẳng định sự lạc lõng của tấm lụa giữa chốn phồn hoa đông người. Đây cũng như hình ảnh của người phụ nữ ngày xưa, mỏng manh, phụ thuộc không biết đi đâu về đâu giữa dòng đời trong đục khó phân. Bởi thế, lời ca dao như một tiếng than, ngậm ngùi trong câu hỏi vọng lên biết vào tay ai? Dẫu phải rơi vào những nghịch cảnh như vậy, những lời ca về thân em vẫn toát lên một niềm kiêu hãnh về phẩm giá! Sự đối lập giữa hai dòng thơ phần nào cho chúng hiểu được nỗi lòng của người phụ nữ mỏng manh, yếu đuối lạc lõng giữa dòng người.

“Thân em như hạt mưa sa,

Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày”.

Hình ảnh hạt mưa xa gợi lên một sắc thái khác. Cô gái không còn đài các, kiêu sa nữa cô gái ở câu thơ này lại nhỏ bé, vô nghĩa. Ai có thể đếm được mỗi cơn mu có bao nhiêu hạt mưa. Mỗi hạt mưa đều giống nhau, đều màu trắng, đều ngọt ngào ai có thể phân biệt được mưa nào đẹp, mưa nào xấu. Thế nhưng câu thơ tiếp theo đã tash biệt ra cai khác của mỗi hạt mưa, đó là chỗ rơi của mỗi hạt mưa là khác nha. Hạt vào đài cac, hạt ra ruộng cày. Dù mưa ở đâu thì mưa cũng đem đến những hạt mưa ngọt ngào trong trẻo cho con người ta. Một hình ảnh so sánh thật đối lập, đài các nơi dành cho tầng lớp thượng lưu, ruộng cày nơi dành cho những người ở tầng lớp hạ lưu. Hạt mưa xa giống như thân phân của người phụ nữ ở trong cùng một thời đại, cùng một thân phận. Nhưng mỗi người lại có một số mệnh khác nhau, người may mắn lấy được người chồng tốt có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Người không may mắn lấy được người chồng phụ bạc sống khổ suốt đời. Lời so sánh như một bức tranh sinh động về mỗi số phận của mỗi người phụ nữ khác nhau.

Câu ca dao tiếp theo nói về hình ảnh chớ trêu của người phụ nữ:

“Thân em như giếng giữa đàng

Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân”

Nếu vế trước của câu ca dao là hình ảnh trong trẻo, mát lạnh của giếng giữa đàng, thì ở vế sau lại là một hình ảnh so sánh xô bồ, tấp nập. Giếng giữa đàng là giếng không của riêng ai, có người qua kẻ lại, mỗi người sử dụng nước với mục đích khác nhau. Người khôn thì rửa mặt, người phàm rửa chân, có người biết giá trị thì nâng niu, cẩn thận, người không biết giá trị thì phũ phàng, không biết giá trị. Qua đây ta có thể thấy được giá trị của người phụ nữ xưa, họ chỉ chờ đợi vào duyên số, họ không được tự làm chủ cuộc đời mình mà phải phụ thuộc trông chờ vào người khác.

Và ở câu ca dao tiếp theo hình ảnh người phụ nữ còn tủi hờn hơn:

“Thân em như con hạc đầu đình

Muốn bay không cất nổi mình mà bay”

Thật trớ trêu, thật đáng thương có gì khổ bằng sống cả cuộc đời không được làm những điều mà mình muốn. Dẫu có muốn bay cúng không cất nổi mình mà bay. Cả đời chấp nhận sống chung với sự cay đắng, khổ cực, trong cái vòng luẩn quẩn đã được sắp đặt trước. Câu ca dao chứa đựng niềm khao khát tự do cháy bỏng và một nỗi bất bình sâu sắc.Trong một xã hội phong kiến xưa, quan niệm trong nam khinh nữ đã biến cuộc đời người phụ nữ thành chuỗi bi kịch kéo dài. Biết than cùng ai, biết ngỏ cùng ai? Trời thì cao mà đất thì dày. Thôi thì đành giãi bày qua những câu ca vậy!

Ca dao là những câu ca, những tác phẩm khác nhau được tạo ra bởi nhiều người khác nhau, ở những chế độ phong kiến khác nhau, thời đại khác nhau, ở những địa phương khác nhau. Nhưng những câu ca dao ấy như một nỗi lòng chung than trách về thân phận của những người nông dân, bần hàn, những người phụ nữ chân yếu tay mềm, phải chấp nhận sống phụ thuộc cả đời. Dù không phải một người sáng tác, nhưng những câu ca dao ấy lại có nội dung giống nhau, thật trùng hợp, nhưng đắng cay thay những câu ca dao ấy không phải chung niềm vui mà là chung nỗi buồn. Sau từ “thân em’ là từ “như” dùng để so sánh và đối tượng đem ra so sánh: tấm lụa đào, hạt mưa, giếng giữa đàng,con hạc đầu đình. Các vật đem ra so sánh đều là những vật gần gũi, quen thuộc và có những nét tương đồng độc đáo với thân phận của người con gái trong xã hội cũ.

Nguồn: Bài văn hay