Số phận người phụ nữ trong Chinh phụ ngâm khúc

Số phận người phụ nữ trong Chinh phụ ngâm khúc

Đề bài: Số phận người phụ nữ trong Chinh phụ ngâm khúc

Bài làm

Tiếng nói tri ân trong thơ văn xuất phát từ tâm tư, tình cảm, suy nghĩ, nỗi lòng của bản thân người sáng tác về cuộc đời và là sự đồng điệu trong tâm hồn bạn đọc với nhà văn, nhà thơ cho nên qua thơ, văn người Việt gián tiếp thể hiện con người, còn người đọc bắt gặp chân dung, tâm hồn, tình cảm chân dung cuộc đời tác giả

Bản chất của lao động nghệ thuật là sáng tạo. Khi sáng tác văn học nhà văn đã gửi gắm tâm sự mình qua tác phẩm, mong tìm được cảm thông, chia sẻ, tìm tiếng nói tri ân trong bạn đọc, không tìm thấy tiếng nói tri ân với người đương thời, nhà văn, nhà thơ đã kí thác cho mai sau và trường hợp ” đọc tiểu thanh kí” Nguyễn Duy là tiêu biểu.

Nguyễn Du thường tri ân với nhiều người ông đã sót thương cho mọi số kiếp khổ đau trong nhân gian đó là nàng Kiều, là người phụ nữ đánh đàn ở Long Thành, là Đạm Tiên…Với Tiểu Thanh đó là sự thấu hiểu nỗi khổ của người con gái sống khác dân tộc, khác thời đại, là tiếng nói tri ân của một nhân cách, với một cá nhân.

Hoàn cảnh tri ngộ, tiêu điều:

” Thuở trời đất nổi cơn gió bụi”

Đây là cuộc tri ngộ chỉ có một mình Nguyễn Du với người đã khuất, một nhà thơ tri ân với một nhà thơ, một người cô đơn viếng một người cô đơn, một hồn đau tìm đến một hồn đau.

Nguyễn Du thấu hiểu bi kịch của Tiểu Thanh qua hai hình ảnh vô chi ” Son phấn” ” Văn chương” Nguyễn Du đau với Tiểu Thanh là biểu hiện cho tính chất nhân đạo sâu sắc vượt khoảng cách, không gian địa lí, thời gian chảy trôi.

Nguyễn Du tri ân những người tài hoa bạc mệnh nói chung trong đó có mình. Từ chuyện một người mở rộng ra để hiểu muôn người đồng điệu với nỗi đau đớn của thế nhân. Đâu chỉ có Tiểu Thanh đó là số phận bất hạnh bao nhiêu người. Hai chữ cổ kim, gợi dòng thời gian miệt mài chảy trôi vô thủy, từ Đông sang Tây, trên đó thấp thoáng tiếng khóc Nàng Kiều, tiếng oai oán cô cầm, tiếng hát người ca nữ đất Long Thành, người hát rong ở Thái Bình, tiếng van lớn của người mẹ ăn xin đó là nỗi hận bao kiếp người, bao cuộc đời, bao thế hệ giờ đây tất cả đều đổ dồn xuống câu thơ Nguyễn Du, một mối hận chất chứa dày đặc thế mà trời không hỏi. Hỏi người người không biết, hỏi trời trời không đáp, một câu hỏi bế tắc trong tư tưởng cho lên ông tự lí giải cho mình. Tiểu Thanh đau khổ bao con người khổ đau chính là bởi nỗi oan lạ lùng vì nết phong nhã, thì ra chính “Chi phấn” “Văn chương” kia là nguyên nhân gây ra nỗi khổ nhường này, nó không chỉ chịu nỗi đau về thể xác mà còn chịu nỗi đau về tinh thần. Mà nhà thơ tự coi mình là người cùng hội cùng thuyền với Tiểu Thanh. Thế là Nguyễn Du lấy hồn tôi để hiểu hồn người. Sở dĩ là bởi lẽ ông thấy mình trong cuộc đời và văn thơ Tiểu Thanh, ông ý thức được thân phận cuộc đời mình không tránh khỏi cái nghiệt ngã của số phận.

Cuối cùng Nguyễn Du bộc lộ nhu cầu được tri ân, chia sẻ. 300 năm sau Nguyễn Du đọc thơ và tri ân với Tiểu Thanh. Khóc thương cho nàng còn bản thân Nguyễn Du không tìm được tiếng nói tri ân đương thời lên kí thác cho mai sau. Không biết, 300 năm sau có hình tượng bây giờ hay không. Điều đó chứng tỏ ông bơ vơ giữa cõi đời lên ông tự khóc thương mình, đúng là một niềm tự đau tột độ. Như vậy hiểu Tiểu Thanh, day dứt, dáo diết tìm ra câu trả lời nhưng lại rơi vào bế tắc, rơi vào thuyết hư vô, siêu hình. Nghĩ câu thơ thấm đẫm nước mắt trong trọng điệu ngọt ngào.

Bài thơ thể hiện bi kịch tâm hồn đau đớn nhưng không cứu được đời, vừa cho thấy nỗi đau cô đơn không người chi kỉ thi hào, vì nhu cầu được tri ân mà Nguyễn Du thức tỉnh với niềm tự thương, tự đau tột độ khiến bài thơ mang yếu tố tự đau và cái tôi tự ý thức được thể hiện theo thể thơ Đường luật cô đúc, hàm xúc nhưng phảng phất giọng điệu bi truất, do nhiều thanh trắc, dấu nặng tạo cảm giác u nặng. Như vậy tiếng nói tri ân giữa người đọc và người viết mà điều văn học dân tộc nào, thời đại nào cũng hướng tới, từ đó đặt ra nhu cầu với người nghệ sĩ phải sáng tác từ cảm xúc trân thành, da diết nhất và người đọc phải sống hết mình với tác phẩm để hiểu thông điệp thẩm mĩ với tác giả, để chia sẻ cảm thông với tác giả. Khi ta đến với Nguyễn Du như đến với một con người suốt đời khắc khoải, da diết với thân phận con người. Nguyễn Du đã từng nức nở khóc thương cho những người đau khổ và chúng ta chẳng lẽ không một lần khóc cho Nguyễn Du?

Nguồn: Tài liệu trực tuyến