Phân tích truyện ngắn “Chí phèo”

Phân tích truyện ngắn “Chí phèo”

Đề bài: Phân tích truyện ngắn “Chí phèo”.

Nhận xét về lối viết của nhà văn Nam Cao, Nguyễn Minh Châu viết: “trong các trang truyện của Nam Cao,trang nào cũng có những nhân vật chính hoặc phụ đang đối diện với cái chỗ kiệt cùng với đời sống con người để rồi từ đó bắt buộc người ta phải bộc lộ mình ra, trước hết là tâm lý, nhân cách rồi tiếp đến sau cùng là cái nỗi đau khôn nguôi của con người”. Nếu đem nhận xét này áp vào các nhân vật trong truyện ngắn của Nam Cao, quả thật không sai một chữ. Đặc biệt, với truyện ngắn “Chí Phèo” chúng ta càng thấy rõ được cái gọi là bi kịch của con người phải đối diện với cùng kiệt của cuộc sống, phải bộc lộ mình, phải chống chọi với nỗi đau, thậm chí là không có cách tìm lại chính mình

Luôn băn khoăn trăn trở về cách sống và cách viết, Nam Cao đã từng tuyên ngôn “Sống đã rồi hãy viết”. Một nhà văn muốn viết được nhân đạo trước hết phải sống cho nhân đạo bởi cuộc đời quyết định đến văn chương. Nam Cao luôn nhìn đời bằng đôi mắt của tình thương, đôi mắt của lòng nhân ái. Với cách nhìn đời này, Nam Cao bắt đầu cầm bút sáng tác.Trước Cách Mạng, Nam Cao viết về hai đề tài, đề tài người nông dân và đề tài người trí thức tiểu tư sản. Ở đề tài nông dân hay nhất, tiêu biểu nhất phải kể đến sáng tác đầu tay của Nam Cao, tác phẩm Chí Phèo. Linh hồn của câu chuyện là nhân vật cùng tên được nhà văn miêu tả với một tấn bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người: Sinh ra là người nhưng không được làm người, cả đời khao khát lương thiện,cuối cùng trở thành kẻ bất lương.Thông qua bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của hắn nông dân Chí, ngòi bút Nam Cao bộc lộ là một ngòi bút nhân đạo, nhân văn, sâu sắc và cao cả. Khác với nhiều truyện ngắn cùng đề tài của tác giả, Chí Phèo có phạm vi hiện thực phản ánh trải ra cả bề rộng không gian (một làng quê) và cả bề dài thời gian. Có thể nói, làng Vũ Đại trong truyện chính là hình ảnh thu nhỏ của xã hội nông thôn Việt Nam đương thời.

Người ta thường nói bi kịch là một hoàn cảnh bi thảm, bi thương,bi đát nào đó, thực ra bi kịch vốn được hiểu là những khát vọng chân chính, cháy bỏng, mãnh liệt của một con người nhưng không có điều kiện thực hiên trên thực tế, cuối cùng người mang khát vọng bị rơi vào kết cuc của một thảm kịch. Bi kịch là cuộc đấu tranh dai dẳng, không khoan nhượng giữa thiện và ác, giữa ánh sáng và bóng tối, giữa cao thượng và thấp hèn, giữa chính nghĩa và phi nghĩa. Trong cuộc sống thường ngày,bi kịch không diễn ra giữa các lực lượng xã hội đấu trhắn với nhau, trái lai nó là lực lương tinh thần trong đời sống tâm hồn của một con người, ví như nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của nhà văn Nam Cao, cả đời hắn khao khát lương thiện, cuối cùng trở thành kẻ bất lương, sinh ra là người nhưng không dược làm người, để rồi hắn chết trên con đường trở về lương thiện.

Xây dựng lên hình tượng nhân vật Chí Phèo, Nam Cao đã viết lên một khúc nhạc buồn, một bài ca buồn về một cuộc đời bi kịch cứ nối tiếp bi kịch. Chí và cuộc đời Chí chính là hiện thân của cái gì gọi là đau khổ đến tột cùng. Sự đau khổ ấy có lẽ đã được báo trước ngay từ khi Chí sinh ra với thân phận của một đứa trẻ mồ côi, bị vứt bỏ, phải sống nhờ vào lòng thương hại của mọi người. nếu đã từng đọc “Chí Phèo” chắc không ai có thể quên hình ảnh “một anh đi thả ống lươn gần một cái lò gạch cũ thấy hắn trần truồng và xám ngắt trong một cái váy đụp”. Chao ôi! Xót xa biết bao nhiêu khi con người vừa sinh ra đã là một bi kịch, bi kịch bị ruồng bỏ, đến bố mẹ hắn còn không cần hắn, để tuổi thơ của hắn gắn liền với cái danh không cha không mẹ, một đứa con hoang tội nghiệp, rồi trở thành kẻ tứ cố vô thân. Đó chính là bi kịch của một kiếp người khi mà sống không biết đến tổ tiên, gốc rễ, hắn là một số kiếp khốn cùng, số kiếp bị ghẻ lạnh từ lúc mới lọt lòng.

Chí lớn lên trong sự đùm bọc, cưu mang của một vài người tốt bụng như anh thả ống lươn, bác phó cối, bà góa mù. Cũng có lẽ vì vậy mà lúc đầu, Chí lớn lên với những phẩm chất tốt đẹp của một anh nông dân hiền lành, chất phác, chăm chỉ. Có bao giờ nghĩ rằng, nếu như biết trước được tương lai, có lẽ Chí đã biết rằng 20 năm đầu đời chính là 20 năm hạnh phúc. Đến khi đi làm chắn điền cho nhà Bá Kiến, Chí Phèo vẫn giữ nguyên bản tính của một người nông dân thuần hậu.Cũng như biết bao người nông dân làng Vũ Đại, Chí Phèo ước mơ có được một cuộc sống bình dị bởi mơ ước của một con người phần nào bộc lộ bản tính của người ấy. Ở đây,Chí Phèo ước mơ có một cuộc sống nho nhỏ, “chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải. Chúng lại bỏ con lợn để nuôi, khá giả mua năm ba sào ruộng cấy”.Mơ ước ấy chứng tỏ rằng hắn là một người nông dân thuần hậu, thậm chí làng Vũ Đại còn gọi hắn là người “lành như cục đất”.Ta còn thấy Chí phèo là một người trong sáng và trọng danh dự. Chẳng vậy mà một lần bị bà ba nhà Bá Kiến gọi lên bóp chân,Chí Phèo “chỉ thấy nhục, thấy sợ”.Trái tim của Chí Phèo hai mươi tuổi đâu còn là gỗ đá, Chí Phèo đã nhận thức được đâu là tình yêu chân chính, đâu là thói dâm ô. Bị gọi “đấm bóp cho bà 3 quỷ quái hắn chỉ thấy nhục chứ yêu đương gì”.

Như vậy, đến thời điểm đó, ta có thể khẳng định hắn là một người nông dân thuần hậu, là người trong sáng và trọng danh dự. Nhưng chua xót thay, xã hội ấy không cho Chí Phèo sống yên ổn với bản tính nông dân thuần hậu của hắn. Chí Phèo đang sống trong cái xã hội mà cạm bẫy người giăng giăng như mắc cửi thì những người hiền lành như Chí Phèo bao giờ cũng phải chịu thiệt thòi. Vì một cơn ghen bóng gió,Chí Phèo đã bị Bá Kiến tống vào ngục tù, con người xảo quyệt này sẵn sàng chà đạp lên cuộc đời người khác không thương tiếc, không ghê tay. Bắt đầu từ đây, Chí Phèo chuyển sang một trạng thái khác, một cuộc sống khác. Nhà tù đã nhào nặn hắn từ một người nông dân hiền lành thành một con quỷ dữ. Nhà tù thực dân lấy đi một anh Chí hiền như cục đất rồi trả về một kẻ “cái đầu cạo trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen mà rất cơng cơng, hai mắt gườm gườm, ngực và tay chạm trổ đầy những hình rồng phượng, có cả một ông tướng cầm chuỳ.Trông Chí Phèo đặc như một tên săng đá.”

Đây là bi kịch đầu tiên của Chí Phèo. Chí Phèo cả đời khao khát lương thiện nhưng giờ đây thành kẻ bất lương mất rồi, thành con quỷ dữ mất rồi. Hình ảnh của Chí say rượu vừa đi vừa chửi hết sức buồn cười, phải chăng đằng sau sự lãm nhãm của hắn là tiếng kêu gào tuyệt vọng của sự thèm khát được giao tiếp với đồng loại. Trong cơn say hắn nhận ra được sự cô đơn khủng khiếp của 1 con người bị xh ruồng bỏ. “Hắn thèm được người ta chửi, chửi hắn có nghĩa là còn công nhận hắn là người”. Thế nhưng hắn cứ chửi, xung quanh hắn là sự im lặng đáng sợ, hắn chửi rồi lại nghe: “ chỉ có 3 con chó dữ với 1 thằng say rượu”. Hắn đã bị từ chối quyền làm người tuyệt đối. Giờ đây, hắn muốn sống trong cái Làng Vũ Đại “đầy bọn ăn thịt người không” thì hắn buộc phải gây gổ, cướp giật, ăn vạ, muốn thế hắn phải có gan, phải mạnh, thế là hắn mượn rượu để say, như thế hắn sẽ làm “bất cứ điều gì người ta muốn hắn làm.

Bi kịch ở chỗ Chí Phèo là một “hiện tượng có tính chất quy luật”, tính phổ biến,. Nói cách khác, Chí là sản phẩm của tình trạng áp bức bóc lột tàn tệ ở nông thôn Việt Nam trước đây. Đó là hiện tượng những người nông dân lao động bị đè nén thái quá đã chống trả lại để tồn tại bằng con đường lưu manh, đẩy anh canh điền hiền lành vào tù; nhà tù thực dân đã tiếp tay cho lão cường hào đã giết chết phần người trong con người Chí, biến Chí thành Chí Phèo, biến một người nông dân lương thiện thành một con quỷ dữ. Những người nông dân khốn khổ phải giành lấy sự tồn tại sinh vật bằng việc bán cả nhân phẩm ấy, đã trở thành lực lượng phá hoại mù quáng, dễ dàng bị bọn thống trị thâm độc lợi dụng. Vì thế mà Chí Phèo từ chỗ hung hăng đến nhà, tuyên bố liều chết với bố con lão, chỉ cần mấy câu dỗ ngọt, vài ba đồng hào lẻ đã trở thành tên tay sai mới của lão. Hiện tượng mỉa mai, đau xót đó cũng rất phổ biến và có tính quy luật mà ngòi bút phân tích xã hội sâu sắc của Nam Cao đã vạch ra.

Nhưng bi kịch của bi kịch là gì? Đó là tận cùng của bi kịch. Nghĩa là trong khi một kẻ bị đẩy xuống vực sâu, trong khi hắn chẳng còn hy vọng sống gì nữa thì lại có một bàn tay chìa ra với hắn, những tưởng sẽ cứu vớt đời hắn nhưng cuối cùng lại chỉ cho hắn ảo tưởng một phút giây ngắn ngủi, để rồi lại càng khiến hắn rơi xuống sâu hơn. Đối với Chí Phèo, cuộc gặp gỡ và mối tình với Thị Nở có thể coi là hạnh phúc ngắn ngủi cũng đúng, mà nói là bi kịch thêm bi kịch cũng chẳng sai. Lần đầu tiên trong cuộc đời hắn biết tình yêu là gì, biết cái cảm giác “lần đầu tiên sau bao nhiêu năm, Chí Phèo mới cảm thấy tiếng chim hót vui vẻ, tiếng cười nói của những người đi chợ, tiếng anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá…Những âm thanh quen thuộc trong cuộc sống lao động xung quanh ấy hôm nào chả có, nhưng hôm nay bỗng trở nên vang động sâu xa trong lòng Chí Phèo, trở thành những tiếng gọi thiết tha của cuộc sống vẳng đến đôi tai lần đầu tiên tỉnh táo của anh”. Đó là lần đầu tiên hắn tỉnh rượu, mà có lẽ cũng là lần đầu tiên hắn tỉnh đời. Nam Cao từng ví “cuộc gặp gỡ với thị Nở đã lóe sáng như một tia chớp trong cuộc đời tăm tối dằng dặc của Chí Phèo. Dưới ánh sáng của tia chớp ấy,Chí Phèo bỗng nhìn thấy rõ tất cả cuộc đời mình”. Như vậy là lòng yêu thương, cái tình người chân thành đã làm sống lại trong Chí Phèo cái bản chất đẹp đẽ của người nông dân lao động bao lâu nay bị che lấp, vùi dập nhưng vẫn không tắt. Nhưng tia chớp thì không bao giờ sáng mãi, anh thèm lương thiện nhưng ai cho hắn lương thiện? Chính vào khi cái thiên ương trong anh thức tỉnh, khát khao trở lại làm người nhưng lại bị cự tuyệt lạnh lùng, thì chỉ đến khi đó, Chí Phèo mới thật sự rơi vào tình thế bi kịch: bi kịch của con người bị từ chối không được làm người.

Khi hiểu ra rằng, xã hội không công nhận mình, Chí Phèo vật vã, đau đớn. Hắn lại uống, nhưng điều lạ hôm nay hắn càng uống càng tỉnh ra. Đúng hơn là tuy say, trong tâm thức Chí Phèo lúc này vẫn có một điểm tỉnh: “nỗi đau khốn cùng về thân phận. Và hắn ôm mặt khóc rưng rức”. Rồi như để chạy trốn, bản thân chạy trốn nỗi đau, “hắn lại uống…lại uống…đến say mềm người. Rồi hắn đi với con dao, và vừa đi vừa chửi… như mọi khi”. Nhưng lại hoàn toàn khác mọi lần: hôm nay Chí Phèo quằn quại đau đớn vì tuyệt vọng, càng thấm thía hơn bao giờ hết tội ác của kẻ thù, đã đến thẳng trước Bá Kiến, trợn mắt chỉ tay vào mặt lão dõng dạc đòi quyền làm người, đòi lại bộ mặt đã bị vằm nát của mình.

Kẻ dám chết vì ý thức nhân phẩm đã trở về, anh không thể chấp nhận trở lại kiếp sống thú vật được nữa. Chí Phèo đã chết trên ngưỡng cửa trở về cuộc sống, chết trong tâm trạng bị đau đớn. Thế là trước đây, để bám lấy sự sống, Chí Phèo phải từ bỏ nhân phẩm, bán linh hồn cho quỷ; giờ đây, ý thức nhân phẩm thức dậy, linh hồn trở về, Chí Phèo lại chết. Có người nghi ngờ tấm lòng Nam Cao đối với nhân dân, vì thấy người nông dân của nhà văn phần nhiều xấu xí, dữ tợn. Vậy mà chính những người khốn khổ có bộ mặt và tính cách không mấy “đáng yêu” đó, nhiều khi ý thức nhân phẩm còn mạnh hơn cả cái chết, tiêu biểu như Lão Hạc, như Chí Phèo.

Kết thúc truyện, Chí Phèo chết trên vũng máu của chính mình, Thị Nở thoáng nhìn xuống bụng mình, hình ảnh ấy cứ khiến tôi ám ảnh khôn nguôi. Câu hỏi của Chí “Ai cho tao lương thiện?”. Làm thế nào để con người được sống cuộc sống con người? Đó là “một câu hỏi lớn không lời đáp”, chẳng những không thể hiểu mà xã hội khi ấy cũng chưa thể trả lời. Tác phẩm Chí Phèo mang giá trị nhân đạo sâu sắc, thể hiện tấm lòng yêu thương, trân trọng của Nam Cao đối với những người khốn khổ. Chí Phèo còn là tiếng kêu cứu thiết tha của những người bất hạnh, bị xã hội đàn áp, ruồng rẫy đến bước đường cùng.

Nguồn: Bài văn hay