Phân tích 8 câu thơ đầu trong bài Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu.

Phân tích 8 câu thơ đầu trong bài Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu.

Anh (Chị) hãy Phân tích 8 câu thơ đầu trong bài Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu.

Bàn về thơ Tố Hữu, có ý kiến cho rằng: “Nghệ thuật trong thơ Thơ Tố Hữu thể hiện tính dân tộc rất đậm đà”. Lại có ý kiến cho rằng: “Thơ Tố Hữu mang màu sắc trữ tình – chính trị”.

Anh/chị hãy phân tích đoạn thơ sau đây làm sáng tỏ hai ý kiến trên.

Chí Bằng (Quà tặng Văn học)

– Mình về mình có nhớ ta?

Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.

Mình về mình có nhớ không?

Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn.

– Tiếng ai tha thiết bên cồn

Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi

Áo chàm đưa buổi phân ly

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…

(Trích Việt Bắc, Tố Hữu, Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục, 2011, tr.109)

BÀI LÀM

1. Giới thiệu

− Tác giả: Tố Hữu, một nhà thơ lớn, một nhà cách mạng lớn. Ông là “lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam”. Sự nghiệp thơ ca của ông gắn liền với sự nghiệp cách mạng, phản ánh những chặng đường đầy gian lao nhưng cũng rất hào hùng. Thơ ông đậm chất trữ tính – chính trị (tức là nói về chính trị nhưng lại rất trữ tình, đi sâu vào hồn người chữ không hề khô khan), giọng thơ tâm tình ngọt ngào mà tha thiết và thơ ông cũng rất đậm đà tính dân tộc.

− Tác phẩm: Việt Bắc là tác phẩm xuất sắc, tiêu biểu cho phong cách thơ của Tố Hữu. Bài thơ được sáng tác vào tháng 10 – 1954, trong hoàn cảnh chia ly tiễn biệt giữa quân và dân tại căn cứ địa Việt Bắc sau kháng chiến chống Pháp.

− Trích dẫn ý kiến và đoạn thơ: Bàn về thơ Tố Hữu, có ý kiến cho rằng: “Nghệ thuật trong thơ Thơ Tố Hữu thể hiện tính dân tộc rất đậm đà”. Lại có ý kiến cho rằng: “Thơ Tố Hữu mang màu sắc trữ tình – chính trị”. Trích dẫn thơ.

2. Giải thích:

− “Tính dân tộc” là một phạm trù mĩ học.

+ Tính dân tộc được biểu hiện ở cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật. Đề tài là những sự kiện xảy ra trong lịch sử dân tộc, những hiện tượng chính trị của dân tộc; chủ đề ca ngợi lòng yêu nước, khẳng định ý thức, tinh thần dân tộc; nhân vật là những con người điển hình, biểu hiện tập trung tâm lí, tính cách của cả một dân tộc,… đó chính là những yếu tố nội dung in đậm tính dân tộc trong một tác phẩm văn học. Tác phẩm ấy còn phải biểu hiện được sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa truyền thống và cách tân, dân tộc và hiện đại khi sử dụng linh hoạt những yếu tố hình thức như thể loại, ngôn ngữ, hình ảnh…

+ Biểu hiện của tính dân tộc trong thơ Tố Hữu: Đó là việc Tố Hữu vận dụng sáng tạo thể thơ lục bát, lố đối đáp quen thuộc trong ca dao, đại từ nhân xưng “mình – ta”, chất liệu văn hóa dân gian, hình ảnh, từ ngữ đậm đà phong vị dân gian

− “Màu sắc trữ tình – chính trị”:

+ Thơ Tố Hữu đúng là thơ chính trị, bởi đề tài trong thơ Tố Hữu là những vấn đề chính trị, hồn thơ Tố Hữu luôn hướng tới cái ta chung với lẽ sống lớn, tình cảm lớn và niềm vui lớn của Đảng, dân tộc, cách mạng.

+ Nhưng thơ Tố Hữu cũng rất đỗi trữ tình. Tố Hữu đã đưa thơ trữ tình chính trị lên đến đỉnh cao. Có được điều ấy là nhờ những vấn đề chính trị trong thơ Tố Hữu đã được thực sự chuyển hóa thành những vấn đề của tình cảm, cảm xúc rất mực tự nhiên, chân thành, đằm thắm với một giọng thơ ngọt ngào, tâm tình, giọng của tình thương mến.

3. Phân tích đoạn thơ làm sáng tỏ hai ý kiến

− “Nghệ thuật trong thơ Thơ Tố Hữu thể hiện tính dân tộc rất đậm đà”:

+ Thể hiện qua đoạn thơ thể hiện ở việc vận dụng sáng tạo thể thơ lục bát quen thuộc trong ca dao, dân ca của dân tộc tạo nên nhịp điệu nhịp nhàng, giọng điệu tha thiết: “Mình về mình có nhớ ta/Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng/Mình về mình có nhớ không/Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn”. Tất cả gợi nhớ đến những câu dao, dân ca về tình yêu đôi lứa.

+ Lối đối đáp “mình – ta” được vận dụng sáng tạo. Trong ca dao về tình yêu đôi lứa, “mình – ta” thường là chàng trai hoặc cô gái. Còn trong thơ Tố Hữu, “mình – ta” là bộ đội và người dân Việt Bắc. Mục đích của việc sử dụng lối đối đáp này nhằm thể hiện tình cảm gắn bó mật thiết giữa người đi (bộ đội) và người ở (người dân Việt Bắc) sau “mười lăm năm” gắn bó.

+ Tính dân tộc còn thể hiện ở việc thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn qua câu thơ “Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn”.

+ Đại từ phiếm chỉ “ai” quen thuộc trong ca dao được sử dụng trong câu “- Tiếng ai tha thiết bên cồn” gợi bao nỗi niềm xao xuyến, lưu luyến của người đi.

+ Hình ảnh ẩn dụ “Áo chàm” trong câu thơ “Áo chàm đưa buổi phân ly” là trang phục quen thuộc của đồng bào Việt Bắc. Chiêc “Áo chàm” không chỉ gợi nhớ đồng bào Việt Bắc mà còn gợi nhớ bao nghĩa tình, gắn bó giữa bộ đội và đồng bào nơi đây.

− “Thơ Tố Hữu mang màu sắc trữ tình – chính trị”:

+ Đoạn trích trên đây đề cập đến sự kiện lịch sử là cuộc chia tay giữa những người kháng chiến với nhân dân Việt Bắc tháng 10 năm 1954, cảm hứng chủ đạo của bài thơ là cảm hứng ân tình cách mạng, niềm biết ơn sâu sắc với Đảng, Bác Hồ, căn cứ địa cách mạng, nhân dân trong suốt “mười lăm năm” gắn bó.

+ Đồng thời, cuộc chia tay trọng đại giữa người đi – kẻ ở diễn ra đầy lưu luyến, bịn rịn sau “mười lăm năm” gắn bó. Cán bộ về xuôi, đồn bào Việt Bắc, kẻ ở, người đi đã xưng hô một cách mộc mạc, giản dị thân thiết; “ta – mình”. Cách xưng hô như vậy thắm thiết yêu thương gợi nhớ những khúc hát ca dao của đôi lứa. Cuộc chia tay lớn mang ý nghĩa lịch sử trọng đại bỗng ùa về trong dáng dấp của cuộc biệt li giữa những đôi lứa yêu nhau. Âm điệu thơ, lời thơ vừa xao xuyến, bâng khuâng vừa da diết khắc khoải. Bao kỉ niệm, nghĩa tình suốt mười lăm năm gắn bó ghim lại trong mấy chữ tha thiết, mặn nồng. Hàng loạt điệp từ, điệp cấu trúc đan kết vào nhau khiến điệu thơ da diết, quyến luyến, hằn sâu một nỗi nhớ thương. Đặc biệt là từ nhớ điệp lại bốn lần. Đáp lại lời nhắn nhủ tha thiết của đồng bào chiến khu là sự im lặng lắng nghe của đồng bào miền xuôi. Im lặng mà cõi lòng bồi hồi xúc động: “Tiếng ai tha thiết bên cồn”. Người ở lại gợi nhắc niệm tha thiết, mặn nồng, người ra đi lắng nghe được “Tiếng ai tha thiết bên cồn”. Kẻ ở, người đi thực sự tâm đầu, ý hợp, trái tim có lẽ đã hòa chung một nhịp nên mới có sự hiểu thấu đồng điệu như vậy. Câu thơ tám chữ ngắt nhịp 4/4 chia hai vế cân xứng. Một vế bộc lộ nội tâm, một vế bộc lộ dáng vẻ. Tất cả cùng chung cảm xúc lưu luyến nhớ thương. Hình ảnh đổng bào Việt Bắc trong buổi chia li hiện lên qua cái nhìn của cán bộ kháng chiến thật giản dị, gần gũi với màu áo tràm thân thương. Màu áo tràm ấy ghi dấu truyền thống nghĩa tình thủy chung của đồng bào chiến khu. Câu thơ “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay” gợi cảnh chia tay đầy xúc động. Đồng bào và cán bộ, kẻ ở người đi, tay trong tay trao hơi ấm, yêu thương, quyến luyến, bịn rịn không nỡ, buông rời. Có khác nào nỗi biệt li của những lứa đôi yêu nhau thắm thiết.

4. Đánh giá chung

− Hai ý kiến trên tuy nhận xét về hai phương diện khác nhau: Ý kiến đầu nhận xét về nghệ thuật biểu biệu trong thơ Tố Hữu, ý kiến sau nhận xét về phong cách thơ trữ tình – chính trị trong thơ ông. Nhưng cả hai ý kiến lại nhận xét chính xác về nghệ thuật biểu hiện cũng như phong cách thơ của Tố Hữu.

− Không những vậy, hai ý kiến còn bổ sung cho nhau giúp người đọc hiểu hơn về nghệ thuật biểu hiện và phong cách thơ thể hiện trong thơ Tố Hữu cũng như về đoạn trích Việt Bắc.

Nguồn: Tài liệu trực tuyến