Phân tích nhân vật Tnú qua truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành

Phân tích nhân vật Tnú qua truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành

Đề bài: Em hãy viết bài văn Phân tích nhân vật Tnú qua truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành.

Đọc truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành, sáng tác năm 1965 rút từ tập Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc – Điều để lại ấn tượng khó quên trong tâm hồn độc giả không chỉ là hình tượng cây xà nu giàu sức sống, ham ánh sáng, thân cây thẳng tắp vươn lên bầu trời đón lấy nắng vàng tỏa chất nhựa thơm mỡ màng… mà còn là hình ảnh những con người Tây Nguyên bất khuất, kiên trung, thủy chung, trong sáng, giàu tình nghĩa, trọn đời gắn bó với cách mạng và quyết không đội trời chung với kẻ thù Mỹ – Ngụy như cụ Mết, Tnú, Mai, Dít, anh Xút, bà Nhan… Nổi bật nhất trong số đó là Tnú, một hình tượng vừa kết tinh được phẩm chất tốt đẹp của người Tây Nguyên, Vừa được tác giả viết với bút pháp mang đậm mầu sắc sử thi.

Vào một đêm ngoài rừng mưa rì rào như gió nhẹ, dưới ánh lửa xà nu bập bùng, tất cả dân làng Xô Man già trẻ gái trai đã nghe cụ Mết, một già làng có thân hình vạm vỡ quắc thước, mắt sáng xếch ngược, râu dài ngang ngực kể về cuộc đời đầy bi hùng của Tnú.

Tnú hiện lên dưới ngòi bút của nhà văn là người có lòng yêu nước thương dân, trung thành với cách mạng, gan góc, táo bạo… Tnú là người con của dân làng Xô Man, cha mẹ mất sớm và được dân làng cưu mang, nuôi dưỡng. Cũng như người dân làng “có cái bụng thương núi, thương nước”, Tnú đã sớm có lòng yêu thương nhân dân, làng xóm. Từ tấm lòng này, Tnú đã mở rộng thành tình yêu gắn bó trung thành thủy chung sâu nặng với cách mạng, cán bộ cách mạng. Bởi ngay từ khi còn là một cậu bé, Tnú được cụ Mết, người gìn giữ và truyền ngọn lửa cách mạng từ thế hệ này sang thế hệ khác cho hay: “Cán bộ là Đảng. Đảng còn nước non này còn”. Vì vậy ngay từ chặng đầu của cuộc đời, Tnú đã xuất hiện với tư cách của người anh hùng Tây Nguyên thời chống Mỹ. Dù còn nhỏ, Tnú đã sớm tỏ ra gan góc táo bạo, đầy quả cảm như Kim Đồng, Lê Văn Tám, Vừ A Dính… Bất chấp sự vây lùng khủng bố dã man của kẻ thù: chặt đầu những người đi nuôi cán bộ rồi đầu anh Xút, bà Nhan đang bị chúng treo lủng lẳng đầu bản xóm, Tnú đã cùng với Mai vẫn xung phong gương mẫu vào rừng bảo vệ nuôi dưỡng anh Quyết, một cán bộ trung kiên của Đảng. Đây là một công việc vô cùng khó khăn và đầy hiểm nguy. Vốn là con người nhanh trí, táo bạo thích mạo hiểm, Tnú không vượt qua suối những nơi nước cạn dễ đi mà thường băng qua những con thác hiểm như cưỡi lên lưng con cá kình. Có lần vừa vượt qua thác, chuẩn bị bước lên bờ thì hai họng súng đen ngòm đã chĩa vào tai lạnh ngắt của Tnú. Địch tra tấn hỏi “Cộng sản ở đâu?” Tnú đã không ngần ngại đặt tay lên bụng: “ở đây này!”. Và lưng Tnú lại hằn lên những vết dao chém ngang dọc của kẻ thù. Đúng Tnú là con người rất giàu phẩm chất thủy chung, trung thành với cách mạng mà bất khuất hiên ngang trước kẻ thù “Uy vũ không thể khuất phục”.

Tnú không chỉ có lòng yêu nước thương dân, trung thành với cách mạng mà anh còn là con người chính trực, thẳng thắn, trong sáng như cây xà nu. Tnú quyết tâm học cho được cái chữ để trở thành cán bộ giỏi thay anh Quyết, nếu không may anh Quyết bị hy sinh. Tnú có cái đầu sáng lạ lùng trong việc tìm đường rừng để đưa thư cho anh Quyết từ huyện về xã, đảm bảo an toàn, vượt qua tất cả vòng vây của giặc. Nhưng Tnú học chữ hay quên. Bởi vậy, khi học chữ thua Mai, Tnú đã tự trừng phạt cái tội hay quên của mình báng cách “cầm hòn đá tự đập vào đầu mình máu chảy ròng ròng”. Hành động này có cái gì đó hơi nóng nảy nhưng nó biểu lộ ý chí, quyết tâm sắt đá của một người anh hùng mới “Trung với Đảng, hiếu với dân, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” (Lời dạy của Bác).

Tnú còn có một tình yêu đẹp: trong sáng, thủy chung… Tnú lớn lên đã trở thành một chàng trai kết tinh được những phẩm chất cao đẹp của người dân Xô Man. Anh là thần tượng, là niềm ngưỡng mộ của nhiều cô gái làng. Trong số đó có Mai, người bạn từ thuở thiếu thời, một cô gái dịu dàng xinh đẹp, có đôi mắt đen long lanh chất chứa biết bao tình yêu thương mà đầy kiên nghị, cứng rắn. Mối tình của họ rất thơ mộng và trưởng thành qua năm tháng đầy thử thách khốc liệt của chiến tranh. Rồi họ trở thành vợ chồng. Đứa con trai kháu khỉnh vừa đầy tháng là hoa trái đầu mùa của mối tình thơ mộng và thủy chung ấy. Hạnh phúc gia đình lứa đôi của Tnú đang đẹp như trăng rằm lung linh tỏa sáng cả núi rừng Tây Nguyên.

Càng yêu nước thương dân bao nhiêu thì Tnú càng căm thù giặc bấy nhiêu. Kẻ thù tàn bạo dã man đã phá vỡ tổ ấm hạnh phúc của Tnú một cách không hề tiếc thương. Chúng đã giết vợ con anh bằng cây gậy sắt, hòng uy hiếp tinh thần cách mạng của Tnú, người cầm đầu, linh hồn của cuộc nổi dậy và nhân dân làng Xô Man. Đoạn văn diễn tả sự bất lực của Tnú trước cái chết của vợ con thật bi thương tràn đầy xúc cảm và ấn tượng “Anh đã bứt đứt hàng chục trái vả mà không hay. Anh chồm dậy…. bụng anh có lửa đốt Chỗ hai con mắt “Anh bây giờ là hai cục lửa lộn”. Căm thù đau nhói trong tim và bừng cháy trong hai con mắt – một chi tiết thật dữ dội – đã đột nhiên biến thành tiếng thét của Tnú. Tiếng thét ấy trở thành ngòi nổ làm bùng cháy cả khối thuốc nổ căm hờn của dân Xô Man. Trong phút chốc họ đã: “Chém! chém hết!”, xác 10 tên giặc nằm ngổn ngang quanh đống lửa.

Cuộc đời bi tráng của Tnú đã làm sáng tỏ một chân lý giản dị mà sâu xa của cuộc sống được cụ Mết truyền dạy cho con cháu: “Tnú không cứu được vợ, được con… nhớ không… Tao cũng chỉ có hai bàn tay không… nhớ lấy, ghi lấy… sau này, tao chết rồi, bay còn sống phải nói lại cho con cháu: Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”. Đó là chân lý của cách mạng được nảy sinh từ mảnh đất Tây Nguyên thấm máu và nước mắt. Đó là một chân lý thật nghiệt ngã nhưng tất yếu: Phải dùng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng. Vũ trang chiến đấu là con đường tất yếu để tự giải phóng của nhân dân.

Vượt qua bi kịch cá nhân Tnú đã cầm vũ khí tham gia giải phóng quân. Tnú cũng như cả dân làng Xô Man vùng dậy cầm lấy giáo mác… làm vũ khí chống lại súng đạn tối tân tàn bạo của Mỹ – Ngụy. Và chặng đường cầm vũ khí của Tnú được nối tiếp bằng việc “đi lực lượng”. Tnú đã vượt qua mọi đau thương và bi kịch cá nhân, tham gia lực lượng giải phóng quân để quét sạch tất cả những thằng Dục, kẻ thù không đội trời chung vói vợ con anh — còn tồn tại trên đất nước Việt Nam này. Khi đã trở thành chiến sĩ giải phóng quân, Tnú là một cán bộ có tinh thần kỷ luật cao: tuy nhớ quê hương gia đình, nhưng phải được cấp trên cho phép mới về và cũng chỉ về đúng một đêm như quy định trong giấy phép.

Nhân vật Tnú không chỉ hấp dẫn độc giả chúng ta bởi những phẩm chất, tính cách anh hùng; bởi bút pháp mang đậm màu sắc sử thi bi tráng và tính chất triết lý của nó, mà còn hấp dẫn bởi tính chất hình tượng của tác phẩm. Một trong những hình tượng giàu nghệ thuật, ý nghĩa thẩm mỹ và tạo nên một sức ám ảnh đặc biệt cho độc giả là hình ảnh bàn tay của Tnú. Đây là một hình tượng như có một số phận riêng, gắn bó mật thiết với cuộc đời Tnú, góp phần tô đậm thêm những nét phẩm chất, tính cách cao đẹp của anh. Đó là bàn tay của sự trung thực, tình nghĩa, từng cầm phấn viết chữ anh Quyết dạy cho; từng đặt lên bụng mình mà nói: “Cộng sản đây này”. Bàn tay ấy cũng đã từng được Mai nắm chặt mà khóc những giọt nước mắt nóng bỏng yêu thương đồng cảm, khi Tnú vượt ngục trở về… khi giặc đốt 10 đầu ngón tay Tnú, bàn tay trở thành chứng tích của tội ác và lòng hận thù mà Tnú mang theo suốt cả cuộc đời. Lòng hận thù ấy đã biến bàn tay Tnú thành bàn tay quả báo – 10 ngọn đuốc từ ngón tay Tnú đã châm bùng lên ngọn lửa nổi dậy của dân làng Xô Man. Bàn tay chỉ còn hai đốt mỗi ngón vẫn cầm giáo, cầm súng để Tnú lên đường rửa hận. Và cuối cùng với chính bàn tay ấy, Tnú đã xiết vào cổ họng tất cả những thằng Dục tàn ác hơn cả dã thú.

Câu chuyện bi tráng về cuộc đời Tnú vừa có ý nghĩa cụ thể, cá thể, vì có ý nghĩa điển hình tiêu biểu của người anh hùng đại diện cho số phận và con đường đi của các dân tộc Tây Nguyên trong thời đại đấu tranh giải phóng. Nhân vật Tnú còn có cái gì đó phảng phất như những anh hùng trong các trường ca Đăm Săn…

Nguồn: Tài liệu văn học