Phân tích bài thơ về tiểu đội xe không kính

Phân tích bài thơ về tiểu đội xe không kính

Đề bài: Phân tích bài thơ về tiểu đội xe không kính

Bài làm

Bài thơ về tiểu đội xe không kính là một bài thơ về đề tài người lính khá đặc sắc của Phạm Tiến Duật. Bài thơ sử dụng biện pháp nghệ thuật đặc sắc. Nổi bật lên hình ảnh chiến sĩ lái xe hiên ngang, ung dung, tự tại. Những chiếc xe rất hiện thực được đưa vào bài thơ một cách giản dị.

“Không có kính không phải vì xe không có kính

Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi.

Ung dung buồng lái ta ngồi

Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng”.

Đọc khổ thơ đầu chúng ta có cảm giác như đang ngồi nghe lời thanh minh của các anh lính lái xe. Cấu trúc câu thơ dưới hình thức hỏi đáp. Người lính vẫn hiên ngang trên chiếc xe không có kính mà không một chút mặc cảm. Tuy vẫn lái xe băng băng xong thiếu đi phương tiện vật chất tối thiểu lại là cơ sở để người lái xe bộc lộ những phẩm chất cao đẹp và sức mạnh tinh thần. Xe không kính biểu hiện thách thức sự tàn phá hủy diệt. Nhưng không sự tàn phá nào nay chuyển được tinh thần người chiến sĩ lái xe.

“Ung dung buồng lái ta ngồi

Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng”.

Từ láy ung dung được đảo trong lời thơ càng nhấn mạnh tư thế đàng hoàng tự tin của người lái xe. Điệp từ nhìn thể hiện chính xác tư thế người lái xe, hai chữ nhìn thẳng. Nhìn thẳng vào gian khổ hi sinh không run sợ lé tránh giọng thơ nhịp thơ cân xứng mạnh mẽ đĩnh đạc.

“Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng,

Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim

Thấy sao trời và đột ngột cánh chìm

Như sa, như ùa vào buồng lái”.

Từ sự có kính vỡ rồi, dẫn đến khó khăn trở ngại cho người lái xe. Gió tạt, gió lùa. Người lái x có cảm giác lạ thường nhìn thấy gió và cũng chỉ có cảm giác mới nhận biết mắt đắng, mắt cay vì gió tạt, gió lùa. Ở đây người chiến sĩ lái xe chẳng thấy con đường hiện thực trước mặt và thấy con đường chạy thẳng vào tim – hình ảnh ẩn dụ để chỉ tình cảm người chiến sĩ lái xe dành cho chiến trường miền Nam. Qua khung cửa xe không kính không chỉ mặt đất mà cả bầu trời với sao trời cánh chim như cũng ùa vào buồng lái. Nhà thơ diễn tả chính xác cảm giác mạnh và đột ngột của người ngồi trong buồng lái, khiến người đọc có thể hình dung rõ ràng những ấn tượng cảm giác ấy như chính mình đang ở trên chiếc xe không kính.

“Không có kính, ừ thì có bụi,

Bụi phun tóc trắng như người già.

Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc

Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha!”

Hậu quả do kính vỡ chưa hết cái khổ đáng kể nữa là bụi đường tung bay ” không có kính … cười haha”. Kính chắn gió vỡ nát xe chạy càng nhanh bụi đường càng nhiều mặt mũi lấm lem. Tiếng ừ trong lời thơ vang lên như một thách thức chấp nhận nhưng chủ động của người chiến sĩ lái xe, việc vệ sinh cá nhân không cần thiết chẳng quan trọng lên chưa cần rửa mà việc quân quan trọng hơn khẩn chương hơn họ vẫn bình thản phì phèo châm điếu thuốc, họ gặp nhau cười haha. Giọng cười thông cảm lại có ý nghạo nghễ bất cẩn họ biết biến cái vất vả gian nan thành phút giây thư giãn thoải mái. Đó là nét hồn nhiên của người lính trong kháng chiến chống Mĩ. Khi làm chủ hoàn cảnh luôn có tinh thần lạc quan yêu đời.

“Không có kính, ừ thì ướt áo

Mưa tuôn, mưa xối như ngoài trời

Chưa cần thay lái trăm cầy số nữa

Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi!”

Vẫn với giọng điệu ngang tàn người lái xe bất chấp mưa bão không có kính gió lùa khô mau thôi. Điệp từ mưa diễn tả những cơn mưa rừng rai rảng cùng các động từ ” tuôn, xối” tới tấp như ngoài trời, đó là thực tế khi xe không còn kính chắn gió phía trước.

Đoạn thơ có cách điệp cấu trúc. Điệp ngữ phủ định biểu hiện rõ thái độ bất cần xem thường những trở ngại khó khăn. Chịu đựng những khó khăn đó bởi vì họ khát vọng giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.

“… Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới

Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi”.

Nơi rừng sâu đèo núi chập trùng bom đạn tới tấp nhưng người lái xe vẫn không trùng bước. ” Những chiếc xe…kính vỡ rồi”. Vẫn với giọng điệu hồn nhiên, trẻ trung những ” chiếc xe” là hình ảnh hoán dụ của tiểu đội lái xe. Họ là những chàng trai gan góc dũng cảm. Đi từ trong bom rơi, nơi thần chết trực chờ. Trên đường đi tới chiến trường những lần gặp lại đồng chí đồng đội bao nhiêu nhọc nhằn bỏ lại sau lưng. Hình ảnh những người lính bắt tay nhau qua cửa kính vỡ là một hiện thực. Cũng là một trong kỉ niệm khó quên. Cái bắt tay ấy là sự yêu mến cảm thông đoàn kết trong chiến đấu. Biểu hiện đó trước đây thời chống Pháp trong thơ Chính Hữu.

” Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời

Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy

Võng mắc chông chênh đường xe chạy

Lại đi, lại đi, trời xanh thêm”.

Rồi những lúc nghỉ ngơi dưỡng sức người lính quây quần bên mâm cơm dã chiến. Bếp hoàng cầm trời xanh thêm, trong chiến đấu để giữ kín bí mật để che chắn cặp mắt rình rập của kẻ thù bộ đội cụ Hồ sáng tạo bếp ” Hoàng Cầm” họ tụ tập bên nhau dùng chung bát đũa cách ăn uống giản dị sáng tạo thời chiến và gia đình trong chiến khu.

Là gia đình cùng chiến đấu cùng lí tưởng. Cuối đoạn thơ điệp ngữ lại đi gồm thanh bằng diễn tả những vụ lên đường khẩn cấp liên tục hình ảnh bầu trời xanh thêm diễn tả liềm lạc quan yêu đời của người lái xe.

” Không có kính, rồi xe không có đèn

Không có mui xe, thùng xe có xước,

Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước;

Chỉ cần trong xe có một trái tim”

Làm lên sức mạnh để người lái xe vượt lên khó khăn gian khổ là ý chí quyết tâm giải phóng miền Nam.

” Không có kính…một trái tim”.

Hai câu đầu miêu tả hiện thực ác liệt của chiến tranh thông qua hình ảnh những chiếc xe không kính. Phép liệt kê, điệp từ nhắc lại nhiều lần tô đậm hoàn cảnh thiếu thốn không khí. Hai lời thơ cuối nghệ thuật tương phản khắc họa hình ảnh người lính lái xe với tư thế hiên ngang bất chấp gian khổ quyết tâm giải phóng miền Nam. Lời thơ cuối bật sáng chủ đề bài thơ, hình ảnh hoán dụ ” trái tim” diễn tả tình yêu nước, lí tưởng chiến đấu cao đẹp vì miền Nam ruột thịt. Tác giả muốn khẳng định tình yêu nước, ý chí quyết tâm của con người sẽ làm lên chiến thắng. Khổ thơ thể hiện chiều sâu triết lí, sức mạnh của con người, dân tộc không phải ở những vũ khí tối tân hiện đại mà ở tinh thần yêu nước, ý chí quyết tâm của con người.

Tóm lại, bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật đã diễn tả được trực trạng chiến tranh khốc liệt và cũng làm nổi bật lên sự ung dung, lạc quan trong mọi hoàn cảnh chiến đấu khốc liệt. Trong khi họ vận chuyển hàng hóa vào Miền Nam chi viện.